Tài liệu sinh hoạt chi đoàn tháng 8/2020

Thứ hai - 10/08/2020 03:19
Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn ban hành tài liệu sinh hoạt chi đoàn tháng 8/2020. Đề nghị các Huyện, Thị, Thành Đoàn và Đoàn trực thuộc triển khai đến các cấp bộ Đoàn của đơn vị mình.
Nội dung Tài liệu sinh hoạt chi đoàn tháng 7/2020 tải tại đây: /uploads/news/2020_08/tai-lieu-sinh-hoat-chi-doan-thang-8.2020.8.10.doc

 Đề cương tuyên truyền công tác tuyên giáo tỉnh Phú Yên qua các thời kỳ

I - NGÀY TRUYỀN THỐNG NGÀNH TUYÊN GIÁO CỦA ĐẢNG
Công tác tuyên giáo là một mặt trận tư tưởng, lý luận, văn hoá, khoa học, giáo dục hết sức quan trọng của Đảng. Ngày 01/8/1930, nhân dịp kỷ niệm ngày quốc tế đấu tranh chống chiến tranh đế quốc, bảo vệ hòa bình, Ban Cổ động và Tuyên truyền đã xuất bản tài liệu mang tên “Ngày quốc tế đỏ 01/8”. Đây là Tài liệu duy nhất và sớm nhất còn lưu giữ đến nay đề rõ “Ban Cổ động và Tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam ấn hành”. Ngay sau khi phát hành, Tài liệu đã tạo được tiếng vang lớn, có sức cổ vũ mạnh mẽ quần chúng cách mạng nước ta đứng lên đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chống áp bức, bóc lột, phản đối chiến tranh xâm lược, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc. Từ đó, ngày 01/8 trở thành một mốc son lịch sử, đánh dấu một hoạt động rất có ý nghĩa đối với công tác tuyên giáo của Đảng.
Đánh giá cao sự kiện lịch sử có ý nghĩa đặc biệt này, năm 2000, Bộ Chính trị (Khoá VIII) quyết định lấy ngày 01/8 hàng năm làm Ngày truyền thống công tác tư tưởng - văn hoá của Đảng. Năm 2007, sau khi hợp nhất Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương thành Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá X) quyết định lấy ngày 01/8 hằng năm làm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng. Ngày 01/8/1930 được chọn là Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng nhưng trên thực tế, công tác tuyên giáo đã có từ trước khi thành lập Đảng, từ khi Nguyễn Ái Quốc bắt đầu các hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường cứu nước vào Việt Nam.
Trải qua lịch sử 90 năm xây dựng và phát triển, cơ quan chuyên trách làm công tác tuyên giáo của Đảng đã có những tên gọi khác nhau và có những lần chia tách, hợp nhất cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng: từ Ban Cổ động và Tuyên truyền, Ban Tuyên truyền, Bộ Cổ động và Tuyên truyền, Bộ Tuyên truyền Trung ương (từ năm 1930 đến tháng 8/1945); Ban Tuyên truyền và Ban Giáo dục Trung ương (1950); Ban Tuyên huấn Trung ương (1951); Ban Tuyên huấn văn giáo, gọi tắt là Ban Tuyên giáo Trung ương (1959); Ban Tuyên huấn Trung ương (1968); Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (1989); hiện nay là Ban Tuyên giáo Trung ương (5/2007) nhưng trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, lĩnh vực tuyên giáo cũng luôn giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong công tác lãnh đạo của Đảng.
II- TRUYỀN THỐNG CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ YÊN   
1. Công tác tuyên giáo đã góp phần vào xây dựng Đảng bộ tỉnh Phú Yên phát triển qua các thời kỳ
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tại Phú Yên một số thanh niên trí thức tiến bộ hoạt động trong tổ chức Hưng Nghiệp hội xã, dưới sự lãnh đạo của hai chi bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội trước đây, một mặt tìm cách liên lạc với tổ chức Đảng Cộng sản, mặt khác căn cứ vào tình hình thực tế và qua theo dõi báo chí đã tổ chức đấu tranh chống lại chính quyền phong kiến địa phương. Nhân ngày Quốc tế lao động 01/5/1930, chi bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội tiến hành tuyên truyền cách mạng, tổ chức rải truyền đơn, treo cờ búa liềm… đã gây được ảnh hưởng trong quần chúng, tạo điều kiện cho quần chúng tiếp xúc với chủ trương của Đảng, khơi dậy tinh thần yêu nước trong một bộ phận thanh niên học sinh có ý thức dân tộc theo tư tưởng cộng sản lúc bấy giờ.
Ngày 05/10/1930, Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Phú Yên được thành lập tại thôn Đồng Bé, xã Xuân Long, huyện Đồng Xuân, chi bộ cộng sản ra đời đã ra sức tuyên truyền, vận động quần chúng công nông, chỉ sau một thời gian, ảnh hưởng của Đảng lan truyền sâu rộng ở các địa bàn trong tỉnh. Công tác tuyên truyền trong thời kỳ đầu thành lập chi bộ Đảng được tiến hành kịp thời, sắc bén, phù hợp với tình hình đã góp phần quan trọng trong ổn định tâm lý, tư tưởng cán bộ đảng viên, nâng cao lòng tin vào lý tưởng và thắng lợi của cách mạng, đẩy lùi tâm lý bi quan, dao động. Cùng với cao trào cách mạng của cả nước, khí thế cách mạng trong tỉnh dâng cao, cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1939 đến năm 1945, đã góp phần bồi dưỡng đào tạo cán bộ về kinh nghiệm tổ chức, phát động quần chúng, kinh nghiệm công tác bí mật; giáo dục đảng viên nêu cao vai trò tiền phong cách mạng, gắn bó chặt chẽ với quần chúng, chịu đựng mọi hy sinh gian khổ, tạo sức mạnh tổng hợp đi đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám trên cả nước.
Trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, chính quyền mới được thành lập, công tác tuyên huấn lúc này tập trung bám sát vào các nhiệm vụ chiến lược là kháng chiến và kiến quốc, bảo vệ vùng tự do Phú Yên, bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám; phục vụ nhiệm vụ chính trị của Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh như vận động tăng gia sản xuất, tự túc lương thực, khắc phục nạn đói; tham gia phục vụ kháng chiến, huy động dân công bảo đảm sản xuất, bố phòng chống địch, bảo vệ hậu phương, xóa nạn mù chữ và củng cố các đoàn thể cứu quốc. Đặc biệt, coi trọng tuyên truyền cả về chiều rộng lẫn chiều sâu với nhiều hình thức trực quan như khẩu hiệu, pa nô, áp phích, tranh ảnh, truyền đơn; báo chí, tập san văn nghệ, các chòi phát thanh, nhà thông tin thôn, xóm… Nhiều loại hình báo chí được in ấn, phát hành để dùng làm tài liệu tuyên truyền trong nhân dân; các đoàn cải lương, bài chòi, hát bội của các nghệ nhân chuyên nghiệp, các đội ca kịch nghiệp dư của thanh niên với các vở diễn bám sát đề tài kháng chiến được ủng hộ và hưởng ứng nhiệt liệt, tạo không khí phấn khởi trong nhân dân, góp phần đáng kể vào công tác tuyên truyền vận động quần chúng. Trong các năm 1951-1953, để tăng cường chất lượng công tác tư tưởng, các tỉnh vùng tự do, trong đó có Phú Yên, đã bước đầu xây dựng chế độ báo cáo viên làm thí điểm xây dựng mạng lưới tuyên truyền cơ sở; tập trung mở các lớp chỉnh huấn cho cán bộ các cấp, các ngành… qua đó, đã tạo được sự chuyển biến rõ rệt, có ảnh hưởng tích cực đối với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương. Công tác tư tưởng đã kịp thời động viên các hoạt động chuẩn bị cho chiến dịch Át lăng, tố cáo tội ác dã man của địch, nhờ đó nhân dân ngày càng thông suốt đường lối chủ trương của Đảng, nâng cao lòng yêu nước, khí phách kiên cường của dân tộc, nâng cao ý chí quyết tâm kháng chiến, không ngại hy sinh gian khổ, đẩy lùi khuynh hướng chủ quan, khinh địch, thiếu cảnh giác, ngại hy sinh; toàn tỉnh sục sôi chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu to lớn và quyết liệt nhất, góp phần vào thắng lợi chung cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của cả dân tộc.
Sau Hiệp định Giơnevơ (7/1954), chấm dứt chiến tranh, đất nước ta tạm thời chia cắt thành hai miền, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, trở thành hậu phương to lớn và vững chắc cho nhân dân miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Công tác tuyên huấn của Đảng bộ tỉnh nhanh chóng chuyển hướng hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong thời kì mới. Công tác tư tưởng được tiến hành chủ yếu bằng các hoạt động tuyên truyền trực tiếp của các cán bộ, đảng viên và quần chúng trung kiên, làm cho đồng bào thấy rõ âm mưu thâm độc của chính sách “tố cộng”, nêu cao sự chính nghĩa và vai trò của Đảng, của Bác Hồ đối với dân tộc, nhân dân, chuyển hướng nhận thức tư tưởng và hoạt động theo phương châm “bí mật, thận trọng, khéo che giấu, khéo hành động”, giáo dục cán bộ, đảng viên nêu cao khí tiết cộng sản, tiến công địch, phá âm mưu thâm độc của chúng, bảo vệ tổ chức, bảo vệ uy tín chính trị của Đảng; thực hiện bám dân, bám cơ sở để lãnh đạo quần chúng, khắc phục tư tưởng bi quan, hoang mang, thiếu tin tưởng, đồng thời đề phòng và khắc phục tư tưởng chủ quan, kém cảnh giác.
Trong hoàn cảnh hết sức ác liệt, công tác tư tưởng trong Đảng và trong nhân dân ở cơ sở đã góp phần quan trọng giữ vững ý chí chiến đấu; nhiều cán bộ đảng viên bị bắt tù đày nhưng vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản, không đầu hàng khai báo, kiên cường đấu tranh bảo vệ tổ chức, bảo vệ Đảng, nhiều cơ sở được phát triển mới, cán bộ, đảng viên quyết tâm bám phong trào, bám dân tuyên truyền giáo dục vận động quần chúng. Ban Tuyên huấn các cấp đã tham mưu cấp ủy chỉ đạo tiến hành nhiều đợt tuyên truyền, giáo dục, học tập, quán triệt đến tất cả cán bộ, đảng viên, các đơn vị lực lượng vũ trang và các đoàn thể nhân dân về những thuận lợi, bước tiến mới, nhiệm vụ mới của cách mạng trong tỉnh, từng bước đưa tinh thần các Nghị quyết của Trung ương, của Đảng bộ vào cuộc sống. Tiểu ban giáo dục thuộc Ban Tuyên huấn tỉnh có nhiệm vụ mở các lớp xóa mù cho nhân dân vùng cao, chăm lo xây dựng nền giáo dục cách mạng, đào tạo một thế hệ trẻ tiến bộ, phát triển toàn diện, giác ngộ cách mạng, sẵn sàng phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Trường Đảng Phú Yên có nhiệm vụ mở các lớp bồi dưỡng tập trung cho cán bộ xã, huyện làm cho cán bộ, đảng viên thấy rõ thế và lực của ta trên chiến trường, xây dựng lập trường kiên định tiến công, đánh thắng địch trong “chiến tranh đặc biệt”, sẵn sàng ứng phó nếu địch leo thang chiến tranh, xây dựng quyết tâm đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, âm mưu nham hiểm của địch trong các chiến lược chiến tranh, cán bộ và nhân viên làm công tác tuyên huấn trên địa bàn tỉnh luôn vững vàng về lập trường, tư tưởng, tích cực hoạt động, sử dụng nhiều phương thức tuyên truyền linh hoạt... đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, góp phần cùng với các lực lượng giải phóng tỉnh Phú Yên vào 01/4/1975.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi, miền Nam Việt Nam được hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam xum họp một nhà, công tác tuyên huấn bước vào thời kỳ mới, thời kỳ tiến hành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Trước tình hình nhiệm vụ mới, ngành Tuyên huấn Phú Yên bước đầu sắp xếp lại bộ máy, Ban Tuyên huấn trở thành ban tham mưu cho Tỉnh ủy về mặt công tác tư tưởng, đồng thời được Tỉnh ủy giao trực tiếp phụ trách Trường Đảng tỉnh và tờ báo “Phú Yên giải phóng”, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng bộ và chính quyền cách mạng Phú Yên. Tháng 11/1975, thực hiện quyết định của Bộ Chính trị, hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa hợp nhất thành tỉnh Phú Khánh. Công tác tư tưởng giai đoạn này tập trung bám sát nhiệm vụ chính trị, bám sát thực tế cuộc sống lao động, công tác chiến đấu hàng ngày của cán bộ, đảng viên và quần chúng. Toàn bộ các hoạt động nghiên cứu, học tập, tuyên truyền giáo dục của ngành Tuyên huấn Phú Khánh đã có tác dụng bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên, làm cho toàn Đảng bộ, toàn quân, toàn dân trong tỉnh có sự nhất trí cao, hiểu đúng và làm đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, thấy rõ những kết quả đạt được cũng như những khuyết điểm, yếu kém trong các vấn đề kinh tế, xã hội; nhận thức rõ kẻ thù với những âm mưu thâm độc của chúng, những khó khăn không thể tránh khỏi trong hoàn cảnh vừa chiến đấu bảo vệ Tổ quốc vừa bảo đảm đời sống và xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội. Việc hợp nhất tỉnh, huyện thành những đơn vị hành chính quá lớn đã làm cho công tác quản lý, chỉ đạo có nhiều khó khăn, không sát tình hình thực tế ở cơ sở, do đó, ngày 01/7/1989, Bộ Chính trị đã quyết định tách tỉnh Phú Khánh thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa theo địa giới hành chính trước đây.  
Thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986), trước những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế và trong nước, công tác tuyên giáo của Đảng bộ tỉnh đã đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, tạo nên sự chuyển biến mới về nhận thức và hành động của cán bộ đảng viên và nhân các dân tộc trong tỉnh. Toàn ngành đã tập trung bám sát thực tiễn, kịp thời tham mưu cấp uỷ chỉ đạo, xử lý những hiện tượng nảy sinh từ cơ sở, có tác động đến tư tưởng tâm trạng xã hội, nhất là vấn đề nhạy cảm liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền; đập tan mọi luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch, vạch trần âm mưu thâm độc của kẻ thù trong chiến lược “diễn biến hòa bình”... Nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đã nhanh chóng đến với nhân dân, được nhân dân đón nhận và tự giác thực hiện, đạt kết quả tốt. Nội dung, phương thức tiến hành các hoạt động của công tác tư tưởng được đổi mới tích cực theo hướng bám sát và phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ; chuyển mạnh công tác tư tưởng về cơ sở, bám sát cuộc sống; đề cao vai trò trách nhiệm của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt của cấp ủy các cấp, động viên toàn thể cán bộ, đảng viên cùng làm công tác tư tưởng.
2. Một số kết quả nổi bật trên lĩnh vực công tác tuyên giáo của tỉnh trong thời gian gần đây
Việc triển khai học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bảo đảm tính liên tục và linh hoạt từ Chỉ thị số 06-CT/TW, ngày 07/11/2006 của Bộ Chính trị (khóa X) về tổ chức Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đến Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” trên phạm vi toàn tỉnh, với nhiều nội dung thiết thực, sáng tạo, đa dạng, phong phú. Gắn học tập và làm theo với việc thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần xây dựng Đảng bộ ngày càng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Đặc biệt, trong quá trình triển khai thực hiện, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch số 68 -KH/TU, ngày 14/02/2014 về triển khai mô hình “Cơ quan, đơn vị giúp đỡ xã, thôn (buôn) khó khăn và cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức giúp đỡ hộ nghèo”. Thông qua mô hình, toàn tỉnh đã huy động số tiền lên đến hàng trăm tỷ đồng để hỗ trợ xây dựng đường giao thông nông thôn, đèn chiếu sáng công cộng, xóa nhà tạm, hỗ trợ cây giống, con giống, cho mượn tiền gây quỹ làm ăn, nhận đỡ đầu cho các em học sinh nghèo vượt khó học giỏi… qua đó, góp phần tăng cường sự gần gũi, mối đoàn kết giữa đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động với quần chúng nhân dân, củng cố thêm niềm tin của nhân dân với Đảng, ổn định chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh trong tỉnh.
Công tác giáo dục lý luận chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên luôn được chú trọng, góp phần chuẩn hóa đội ngũ cán bộ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng, năng lực điều hành quản lý của chính quyền. Nội dung, hình thức học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng thường xuyên được đổi mới, phù hợp tình hình thực tế; gắn học tập với thảo luận, viết bài thu hoạch, xây dựng kế hoạch, chương trình hành động và tuyên truyền, cung cấp thông tin nhằm nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... tạo sự đồng thuận, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chính quyền các cấp trong lãnh đạo và triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị.
Các hoạt động thông tin, tuyên truyền nhằm cổ động các ngày lễ, ngày kỷ niệm trọng đại của đất nước, các sự kiện chính trị của địa phương được triển khai thực hiện và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Việc chỉ đạo, định hướng hoạt động báo chí được tổ chức thực hiện có hiệu quả theo Quy chế giao ban báo chí của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Thực hiện tốt công tác định hướng tuyên truyền, cung cấp thông tin chính thống, nhất là đối với những vấn đề quan trọng, phức tạp, nhạy cảm được dư luận xã hội quan tâm.
Công tác tham mưu trên lĩnh vực khoa giáo, văn hóa - văn nghệ có nhiều chuyển biến tích cực; làm tốt công tác phối hợp cùng với các ngành trong khối khoa giáo tham mưu cấp ủy ban hành các chương trình, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn sơ kết, tổng kết việc triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về lĩnh vực khoa giáo, văn hóa - văn nghệ phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương, đơn vị.
Công tác nắm bắt dư luận xã hội từng bước được đổi mới, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ bùng nổ thông tin; nhanh nhạy, kịp thời trong việc nắm bắt các vấn đề tư tưởng mới phát sinh trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có đạo... Việc nắm bắt dư luận xã hội được thực hiện thông qua các kênh thông tin từ mạng lưới cộng tác viên và từ sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, các địa phương, đơn vị với các nội dung thiết thực, phục vụ tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy.
Công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động diễn biến hòa bình trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa được quan tâm; chú trọng đấu tranh ngăn chặn các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị lợi dụng tình hình tuyên truyền chống Đảng và Nhà nước... Đến nay, đã thành lập và đi vào hoạt động Tổ đấu tranh phản bác thông tin xấu, độc trên Internet; cộng tác viên Ban Chỉ đạo 94 tỉnh (nay là Ban Chỉ đạo 35); xây dựng trang Web, kênh youtube và đưa trang fanpage đi vào hoạt động, kết nối với fanpage của các tỉnh, thành phố, địa phương trong cả nước và facebook cá nhân của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân trong tỉnh nhằm chia sẻ, chuyển tải các bài viết đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, không đúng sự thật của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Định kỳ hằng tháng, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy xuất bản kịp thời bản tin Thông báo nội bộ và bản tin Phổ thông (theo yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, từ tháng 01/2019 đến nay chỉ xuất bản bản tin Thông báo nội bộ), nội dung bản tin phục vụ tốt yêu cầu định hướng thông tin về kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước, của Đảng, những vấn đề lý luận mới và các thông tin thời sự nổi bật trong tỉnh, trong nước, quốc tế đáp ứng tốt yêu cầu sinh hoạt của các chi, đảng bộ và tuyên truyền rộng rãi trong quần chúng nhân dân.
Hoạt động tuyên truyền miệng của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên có nhiều tiến bộ cả bề rộng lẫn chiều sâu. Các hoạt động tuyên truyền được triển khai thiết thực, hiệu quả cho nhiều đối tượng; phương pháp hoạt động phong phú, bảo đảm yêu cầu, nội dung. Hệ thống câu lạc bộ thời sự từ cấp tỉnh đến cấp xã tiếp tục được củng cố và đẩy mạnh hoạt động. Công tác nghiên cứu, biên soạn, xuất bản các công trình lịch sử; công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng trong Đảng bộ và nhân dân được quan tâm triển khai thực hiện với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Ngành Tuyên giáo đã tham mưu cấp ủy và các ban, ngành nghiên cứu biên soạn một số đề tài như: “Các Đại hội và Hội nghị Tỉnh ủy Phú Yên quan các thời kỳ 1930 - 2010”; “Lịch sử công tác Dân vận Phú yên thời kỳ 1930 - 2010”; “ Lịch sử công tác Mặt trận tỉnh Phú Yên thời kỳ 1930 - 2010”; “Lịch sử công an nhân dân Phú Yên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975”; lịch sử đảng bộ các huyện, thị, thành phố, các xã phường trên địa bàn tỉnh...
Cơ sở vật chất, phương tiện tác nghiệp cho hoạt động công tác tư tưởng cũng được chú trọng đầu tư xây dựng. Nhờ vậy, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân có điều kiện tiếp nhận kịp thời những thông tin cần thiết cũng như tiếp nhận đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng từ tỉnh đến cơ sở không ngừng được củng cố và hoàn thiện, đã làm tốt công tác tham mưu chỉ đạo, tổ chức bảo vệ nền tảng tư tưởng và đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
III- BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Thứ nhất, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, của Tỉnh ủy chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch công tác tuyên giáo hàng năm; nắm bắt kịp thời tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tăng cường công tác dự báo để chủ động tham mưu cho cấp ủy giải quyết tốt các vấn đề có tính chất phức tạp, nhạy cảm; các vấn đề bức xúc, những nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Thứ hai, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, của dân tộc, đổi mới nội dung, phương pháp công tác tuyên giáo sát với yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn, quan tâm nâng cao chất lượng, tính chủ động trong tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, vận dụng sáng tạo trong từng thời kỳ cách mạng.
Thứ ba, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; trên mặt trận tư tưởng phải luôn bám sát đời sống xã hội nhằm hướng dẫn tư tưởng và hành động của nhân dân, kiên quyết, kịp thời đấu tranh, phản bác một cách có cơ sở khoa học, có tính thuyết phục đối với những luận điểm sai trái, xuyên tạc, phản động của các thế lực thù địch.
Thứ tư, tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc ban tuyên giáo các cấp triển khai thực hiện sơ, tổng kết kịp thời các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về lĩnh vực tuyên giáo, tổ chức giao ban công tác tuyên giáo định kỳ để nắm tình hình, duy trì thường xuyên chế độ báo cáo, thực hiện kịp thời có hiệu quả thông tin hai chiều, nắm chắc tình hình thực tiễn của các ngành, các địa phương, đơn vị và cơ sở; tuyên truyền, cổ vũ, động viên các nhân tố mới, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Thứ năm, thường xuyên quan tâm đến công tác tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ tuyên giáo từ tỉnh đến cơ sở; quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, xây dựng phong cách làm việc cho đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo, khẳng định bản lĩnh chính trị, năng lực tham mưu, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ được giao.
IV- PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO TRONG THỜI GIAN TỚI
1. Tập trung tuyên truyền đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; triển khai việc học tập, quán triệt nghị quyết, chương trình, kế hoạch của cấp ủy các cấp sau đại hội.
2. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức phổ biến, quán triệt, tuyên truyền các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng; nâng cao chất lượng việc tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng theo hướng thiết thực, hiệu quả, khả thi. Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc, giám sát việc tổ chức học tập, quán triệt, thực hiện nghị quyết của Đảng.  
3. Tăng cường giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị, xây dựng bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng trên cơ sở giữ vững nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.
4. Tăng cường công tác định hướng, quản lý, chấn chỉnh hoạt động báo chí, xuất bản, Internet, mạng xã hội, nâng cao chất lượng tuyên truyền của các cơ quan báo, đài địa phương; chú trọng công tác tham mưu thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng trong lĩnh vực khoa giáo và văn hóa văn nghệ; nắm bắt tình hình tư tưởng và tâm trạng xã hội, kịp thời phản ánh, tham mưu cấp ủy giải quyết tình hình hình phát sinh ngay từ cơ sở, bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; tăng cường tuyên truyền, cổ vũ, động viên các nhân tố mới, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt trên mọi lĩnh vực; đấu tranh, phê phán những biểu hiện tiêu cực trong xã hội.
5. Triển khai tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới và Kế hoạch số 111-KH/TU, ngày 27/6/2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy triển khai thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin, chủ động nắm bắt âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch, đối tượng cơ hội chính trị, đấu tranh phản bác có hiệu quả, kịp thời các quan điểm sai trái, thù địch; phòng, chống “tụ diễn biến”, “tự chuyển hóa” dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
6. Thường xuyên gắn kết chặt chẽ công tác tư tưởng với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. Tăng cường sự phối hợp giữa ban tuyên giáo các cấp với cơ quan quản lý nhà nước trong việc triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết các vấn đề bức xúc của nhân dân.
7. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo có bản lĩnh vững vàng, nhạy bén chính trị, có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tâm huyết, coi trọng rèn luyện cán bộ trong thực tiễn, có khả năng tập hợp, đoàn kết, thuyết phục quần chúng. Tăng cường cơ sở vật chất, hiện đại hóa các phương tiện làm việc đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác tuyên giáo trong tình hình mới.
Nhìn lại chặng đường 90 năm qua, với sự nỗ lực không ngừng, công tác tuyên giáo của Đảng bộ tỉnh đã góp phần thiết thực vào việc giữ vững trận địa tư tưởng, đã có những đóng góp quan trọng trong từng thời kỳ cách mạng góp phần xây dựng Đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh. Kỷ niệm 90 năm Ngày truyền thống của ngành Tuyên giáo là dịp để chúng ta cùng ôn lại và phát huy truyền thống lịch sử vẻ vang của ngành, tự hào về những đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc,… từ đó, góp phần phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, truyền thống đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, năng động sáng tạo, phát huy nội lực, nắm bắt thời cơ, vư­ợt qua thách thức cùng cả tỉnh, cả n­ước tiến bước trên con đư­ờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, n­ước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 
Nguồn: BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY PHÚ YÊN
2. TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 75 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THÀNH CÔNG (19/8/1945 - 19/8/2020)
 
 
   
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã nhất tề đứng lên làm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Cuộc Cách mạng này có ý nghĩa lịch sử to lớn, sâu sắc đối với dân tộc ta và quốc tế. Năm tháng có thể lùi xa vào chiều sâu lịch sử nhưng những bài học kinh nghiệm từ Cách mạng Tháng Tám đối với công cuộc hội nhập quốc tế hiện nay, vẫn giữ nguyên giá trị, cần được các cấp, các ngành và mỗi cán bộ, đảng viên nắm vững để vận dụng vào thực tiễn một cách thiết thực và hiệu quả cho quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra ngày càng sâu rộng hiện nay.
          Cách mạng Tháng Tám là một trong những trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta đã đập tan ách phát-xít Nhật, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Ðảng ta, mới 15 tuổi với 5.000 đảng viên đã trở thành đảng cầm quyền lãnh đạo toàn xã hội chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam tiến lên phía trước.
          Trở lại lịch sử chúng ta thấy rõ, từ cuối thế kỷ XIX, sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thi hành chính sách thống trị vô cùng tàn bạo. Chúng chia cắt đất nước ta, xóa tên nước Việt Nam trên bản đồ thế giới, thẳng tay chém giết những người yêu nước, cướp đoạt ruộng đất, tài nguyên, bóc lột dân ta đến tận xương tủy, thực hiện chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn làm cho nòi giống ta suy nhược.
Khi phát-xít Nhật xâm lược Ðông Dương, thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, dân ta chịu ba tầng áp bức: quân phiệt Nhật, thực dân Pháp và chế độ phong kiến tay sai. Cuối năm 1944, đầu năm 1945, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói thảm thương.
          Kế thừa và nâng lên tầm cao mới truyền thống kiên cường bất khuất chống ngoại xâm của ông cha, nhiều bậc chí sĩ yêu nước đứng lên chống thực dân Pháp giành độc lập, nhưng đều thất bại vì không có một đường lối cứu nước đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin - lý luận cách mạng tiên tiến của thời đại - đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn và sáng lập ra Ðảng Cộng sản Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Ðảng, nhân dân ta đã tiến hành các cao trào cách mạng, vượt qua nhiều hy sinh, tổn thất để giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám, đem lại cuộc biến đổi xã hội chưa từng có và tạo ra bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc. Không những thế, cuộc Cách mạng Tháng Tám, còn là đòn chí mạng đánh vào một mắt xích yếu nhất trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân đế quốc, thức tỉnh các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đứng lên giành độc lập tự do.
          Cách mạng Tháng Tám đã để lại cho chúng ta những kinh nghiệm lịch sử quý báu, mãi mãi soi sáng các chặng đường cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập quốc tế hiện nay. Có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu sau đây:
          Một là, xây dựng một đảng Mác - Lênin có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ sáng suốt, thường xuyên vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, gắn bó mật thiết với nhân dân, có đội ngũ cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu, chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
          Bài học này giữ vị trí hàng đầu, bởi vì, sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám, Đảng Cộng sản Việt Nam, được toàn dân tộc tôn vinh là đảng cầm quyền, hơn 70 năm qua, lãnh đạo nhân dân ta tiến hành các cuộc kháng chiến trường kỳ giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, trong mọi thời kỳ phát triển của cách mạng nước ta, Đảng luôn luôn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, trí tuệ sáng suốt, vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức, gắn bó mật thiết với nhân dân, có đội ngũ cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu, chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế hiện nay, là một công cuộc hết sức to lớn, toàn diện, sâu sắc và triệt để, trong khi tình hình kinh tế, chính trị và quân sự trên thế giới, trong khu vực đang diễn biến hết sức phức tạp, khó lường ảnh hưởng trực tiếp đến cách mạng nước ta. Điều đó, làm cho bài học này càng có giá trị lý luận, thực tiễn hết sức sâu sắc.
          Báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, xác định rõ: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng”1. Các nội dung và biện pháp thực hiện trên từng lĩnh vực về chính trị, tư tưởng, tổ chức,... được Đại hội xác định rất sâu sắc và triệt để, các Hội nghị Trung ương Đảng sau Đại hội đã, đang triển khai thực hiện bài bản, toàn diện và mạnh mẽ trong toàn Đảng. Vấn đề đặt ra lúc này là, các cấp bộ Đảng, từng cán bộ, đảng viên cần quán triệt sâu sắc, tập trung mọi nỗ lực cùng toàn Đảng thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối đã được vạch ra. Bởi vì, xây dựng Đảng vững mạnh, trong sạch là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cấp bộ Đảng và từng cán bộ, đảng viên. Từng cán bộ, đảng viên, từng tế bào của Đảng có vững mạnh, trong sạch, thì toàn Đảng mới trong sạch, vững mạnh, mới có đủ năng lực để lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế đang diễn ra hết sức sôi động.
          Hai là, huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và phương châm “thêm bạn bớt thù” của Cách mạng Tháng Tám vận dụng cho quá trình hội nhập quốc tế hiện nay.
Đây là bài học ông, cha đã thực hiện trong suốt mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, được Đảng và Bác Hồ kế thừa, phát triển, nâng lên tầm cao mới kể từ thời kỳ vận động, tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công cho đến ngày nay. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn khác nhau vận dụng bài học này, có sự uyển chuyển cho phù hợp với tình hình thời cuộc. Nhờ huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân và phương châm chỉ đạo chiến lược “dĩ bất biến ứng vạn biến” cách mạng nước ta đã vượt qua thời kỳ “ngàn cân treo sợi tóc”, ra sức chống giặc đói, giặc dốt và thù trong, giặc ngoài ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công. Sau đó, tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, thu non sông về một mối, thống nhất đất nước.
          Có thể khẳng định, nhờ huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc và đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, chúng ta đã đạt đươc nhiều thành tựu to lớn trong xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, trước bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi hết sức phức tạp, bất lợi cho cách mạng nước ta vào nửa cuối thế kỷ XX và những thập niên đầu thế kỷ XXI.
          Quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, bài học huy động sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và “thêm bạn bớt thù” càng có ý nghĩa sâu sắc. Bởi vì, cùng với hơn 90 triệu người dân ở trong nước, chúng ta có hơn 6 triệu kiều bào đang sinh sống trên khắp thế giới. Huy động được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thì không chỉ vốn và tri thức của trong nước, mà kiều bào ta ở nước ngoài cũng được đầu tư ngày càng to lớn, toàn diện cho sự nghiệp xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế. Trong thời gian gần đây, nhiều doanh nhân, trí thức Việt kiều đã về nước đầu tư, hàng năm lượng kiều hối thu về trên chục tỷ USD, nhiều tri thức khoa học, kinh nghiệm tổ chức quản lý kinh tế, xã hội của thế giới được chuyển giao phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước. Đó là những minh chứng về tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc đã được Đảng, Nhà nước vận dụng sáng tạo, phát huy mạnh mẽ trong giai đoạn mới của cách mạng nước ta, khởi nguồn từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
          Về đường lối đối ngoại trong thời gian tới, Đại hội XII của Đảng, chỉ rõ: “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế,... nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”2. Nghiên cứu Đường lối đối ngoại của Đảng, trong chặng đường tiếp theo của cách mạng nước ta, cho thấy, bài học kinh nghiệm từ Cách mạng Tháng Tám đã được nâng lên tầm cao mới. Đó là, sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc với thu hút các nguồn lực của quốc tế để phát triển đất nước trong tiến trình hội nhập. Triển khai thực hiện thắng lợi chủ trương chỉ đạo chiến lược của Đảng, nhất định đất nước ta sẽ ngày càng phồn thịnh sánh vai với các cường quốc năm châu. 
          Ba là, giữ vững độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đẩy mạnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay.
Bài học kinh nghiệm này, bắt nguồn từ Phương hướng chiến lược của cách mạng nước ta được xác định trong Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng,  “Làm cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất để đi tới xã hội cộng sản”. Về thực chất đó là đường lối, giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, được thực hiện một cách nhất quán, sâu sắc và triệt để từ trong quá trình vận động tiến tới Cách mạng Tháng Tám, đồng thời được vận dụng một cách nhuần nhuyễn, sáng tạo trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
          Hội nhập quốc tế là quá trình nền kinh tế, xã hội nước ta mở rộng hợp tác, giao lưu với tất cả các quốc gia, các vùng lãnh thổ trên thế giới, mỗi quốc gia có trình độ kinh tế, chế độ chính trị khác nhau. Quá trình hội nhập càng sâu rộng, thì tính phức tạp, khó khăn càng lớn, nhất là trong thời gian gần đây, nước ta vừa ký và cam kết thực hiện các Hiệp định thương mại thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP và một số hiệp định thương mại khác. Sự tác động tiêu cực của cơ chế kinh tế và các vấn đề phát sinh trong quá trình hội nhập quốc tế có tác động hết sức to lớn đối với vấn đề giữa vững độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính vì lẽ đó, giữ vững độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đẩy mạnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trong giai đoạn hiện nay, vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Cần lưu ý rằng, bài học chỉ được vận dụng một cách nhuần nhuyễn, sáng tạo khi mọi cấp, mọi ngành, từng cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân nhận thức đầy đủ, sâu sắc.
          Cách mạng Tháng Tám năm 1945, có nghĩa lịch sử sâu sắc không những đối với mỗi người dân Việt Nam, mà còn có ý nghĩa quốc tế to lớn, đồng thời, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho Đảng, Nhà nước và mỗi chúng ta. Các bài học kinh nghiệm cơ bản được rút ra trên đây, có mối quan hệ nhân quả, bài học này là tiền đề, là điều kiện của bài học kia tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Quá trình vận dụng, cần nắm vững nội dung của từng bài học và kết hợp chặt chẽ giữa các bài học, thì hiệu quả đạt được cho công cuộc xây dựng đất nước trong tiến trình hội nhập quốc tế sẽ hết sức to lớn, toàn diện. Nhất định Tổ quốc Việt Nam, thân yêu của chúng ta sẽ ngày càng cường thịnh, sánh vai với các cường quốc năm châu, như lúc sinh thời Bác Hồ muôn vàn kính yêu hằng mong muốn./.
                                                          Đại tá, PGS. TS. Hoàng Minh Thảo
                                                Viện Chiến lược quốc phòng, Bộ Quốc phòng.
Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. CTQG, H, 2016, tr. 181.
2. Sđd, tr. 153.
3. KỶ NIỆM 75 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN (19/8/1945 - 19/8/2020)

Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam (CAND) ra đời ngày 19/8/1945 trong khí thế thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, với 3 tổ chức đầu tiên ở 3 miền (Sở Liêm phóng Bắc Bộ; Sở Trinh sát Trung Bộ và Quốc gia tự vệ Cuộc Nam Bộ) thực hiện nhiệm vụ trấn áp phản cách mạng, bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng, tính mạng, tài sản của nhân dân.
          Từ đó, ngày 19/8 được xác định là Ngày truyền thống CAND Việt Nam. Năm 2005, Đảng, Nhà nước đã quyết định lấy Ngày truyền thống Công an nhân dân là "Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc" nhằm tôn vinh vai trò to lớn của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự, khẳng định truyền thống đoàn kết, gắn bó máu thịt giữa lực lượng CAND.
          75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, ở các giai đoạn, các sự kiện lịch sử trọng đại, trong chiến tranh cũng như hòa bình xây dựng đất nước, lực lượng CAND luôn một lòng, một dạ tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, kề vai sát cánh cùng các lực lượng cách mạng và nhân dân đấu tranh làm thất bại âm mưu đảo chính lật đổ chính quyền nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng của đất nước, bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước, góp phần quan trọng làm nên chiến thắng oanh liệt của quân và dân ta trong các cuộc kháng chiến.
          Đất nước hòa bình, thống nhất, với vai trò nòng cốt, CAND chủ động nắm, dự báo tình hình, thực hiện tốt chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước, đồng thời trực tiếp triển khai đồng bộ các biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng đất nước. Đặc biệt, lực lượng CAND đã gương mẫu, tích cực triển khai thực hiện việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường đoàn kết, thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, đấu tranh có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế  lực thù địch, phản động, tội phạm, bảo vệ chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia và cuộc sống bình yên của nhân dân.
Ngày 19 Tháng Tám, Ngày truyền thống của lực lượng cũng trùng với ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, sự sắp đặt của lịch sử đã chứng minh vị trí, vai trò và bản chất cách mạng của lực lượng CAND.
Kỷ niệm ngày truyền thống của lực lượng trong xu thế, bối cảnh đó, mỗi chúng ta vừa tự hào truyền thống vẻ vang, tri ân những hy sinh, cống hiến của các bậc tiền bối, vừa nhận thức rõ yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn mới để tiếp tục phấn đấu “giữ trọn lời thề”!
Nguồn: baochinhphu.com
 
4. TUYÊN TRUYỀN MỘT SỐ NGÀY KỶ NIỆM KHÁC TRONG THÁNG 8/2020

1. Kỷ niệm 132 năm Ngày sinh Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng (20/8/1888 - 20/8/2020)

Năm 1888: sinh ngày 20 tháng 8 tại Cù lao Ông Hổ, làng Mỹ Hoà Hưng, Tổng Định Thành, tỉnh Long Xuyên (nay là xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).
 Năm 1906: lên Sài Gòn học việc và làm thợ.
 Năm 1912: tổ chức cuộc bãi khóa của học sinh trường Cơ khí Á Châu (còn gọi là trường Bá Nghệ - nay là trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng), phong trào này đã được công nhân Ba Son hưởng ứng.
          Năm 1915 – 1917: học thợ máy ở trường Cơ khí Á Châu, nhưng chưa học xong đã bị động viên sang Pháp làm lính thợ phục vụ chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Tôn Đức Thắng làm việc trên chiến hạm France, xưởng Arsenal, quân cảng Toulon.
Năm 1919: tham gia phản chiến trên chiến hạm France tại Biển Đen.
Năm 1920: bị trục xuất khỏi nước Pháp, về Sài Gòn, thành lập Công hội bí mật, lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân Ba Son, tháng 8 năm 1925.
Năm 1926: tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - tổ chức tiền thân của Đảng.
Năm 1927: được bầu vào Ban Chấp hành Thành bộ Sài Gòn - Chợ Lớn và Kỳ bộ Nam Kỳ.
Cuối năm 1929: bị thực dân Pháp bắt trong vụ án Barbier, bị kết án 20 năm khổ sai, đày ra Côn Đảo.
Năm 1945: Sau Cách mạng Tháng Tám, trở về đất liền tham gia Ủy Ban kháng chiến miền Nam.
Năm 1946: Đại biểu Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Phó Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam.
Năm 1947:  Tổng thanh tra  Chính phủ, quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Năm 1948: Quyền Trưởng Ban thường trực Quốc hội, Trưởng Ban Vận động thi đua ái quốc Trung ương.
Năm 1950: Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Xô.
Năm 1951: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Mặt trận Liên Việt.
Năm 1955:  Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Bảo vệ Hòa bình thế giới, Chủ tịch danh dự Ủy ban Bảo vệ Hòa bình thế giới của Việt Nam.
Năm 1960:  Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Năm 1969:  Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Năm 1976:  Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Năm 1980: Qua đời vào ngày 30/3 tại Hà Nội, an táng tại nghĩa trang Mai Dịch.
Chủ tịch Tôn Đức Thắng vinh dự được nhận Huân chương Sao vàng - Huân chương cao quý nhất của nước Việt Nam, Huân chương Lê-nin của Liên Xô, Huân chương Soukhe - Bator của Mông Cổ và nhiều phần thưởng cao quý khác.
Nguồn: http://baotangtonducthang.vn
          2. Kỷ niệm 109 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 - 25/8/2020)
Đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp có tên khai sinh Võ Giáp, bí danh: Văn. Sinh ngày 25/8/1911 tại xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Từ năm 1925 đến 1926, đồng chí tham gia phong trào học sinh ở Huế, năm 1927 tham gia Đảng Tân Việt cách mạng (một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).
          Năm 1930, đồng chí bị địch bắt và kết án 2 năm tù. Sau khi ra tù, đồng chí tiếp tục hoạt động tuyên truyền, gây cơ sở cách mạng trong thanh niên, học sinh. Năm 1936, đồng chí hoạt động trong phong trào dân chủ bán hợp pháp của Đảng ở Hà Nội; là biên tập viên các báo của Đảng: “Tiếng nói của chúng ta”, “Tiến lên”, “Tập hợp”, “Thời báo”, “Tin tức”… Tham gia phong trào Đông Dương đại hội, đồng chí được bầu làm Chủ tịch Ủy ban báo chí Bắc Kỳ.
          Tháng 6/1940, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
          Đầu năm 1941, đồng chí về nước, tham gia công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở căn cứ địa Cao-Bắc-Lạng.
          Tháng 12/1944, đồng chí được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.
          Tháng 4/1945, tại Hội nghị Quân sự Bắc Kỳ, đồng chí được cử vào Ủy ban Quân sự Bắc Kỳ. Từ tháng 5/1945, đồng chí là Tư lệnh các lực lượng vũ trang cách mạng mới, thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân; tháng 6/1945, đồng chí được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ thành lập Ủy ban Chỉ huy lâm thời Khu giải phóng.
          Tháng 8/1945, đồng chí được cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc. Tại Đại hội Quốc dân Tân Trào, đồng chí được bầu vào Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam; là Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và được bổ sung vào Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
          Tháng 3/1946, đồng chí là Chủ tịch Quân sự, Ủy viên trong Chính phủ Liên hiệp; khi thành lập Quân ủy Trung ương, được cử làm Bí thư Quân ủy Trung ương. Tháng 10/1946, là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh ủy quyền làm Tổng Chỉ huy Quân đội Nhân dân và Dân quân tự vệ Việt Nam. Tháng 1/1948, đồng chí được phong quân hàm Đại tướng, Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam.
          Tháng 2/1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, đồng chí được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
          Từ tháng 9/1955 đến tháng 12/1979, đồng chí là Phó Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
          Tháng 9/1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
          Tháng 12/1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
          Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V và lần thứ VI của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương.
          Từ tháng 1/1980, đồng chí là Phó Thủ tướng thường trực; từ tháng 4/1981 đến tháng 12/1986, là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Phó Thủ tướng Chính phủ).
          Đồng chí liên tục được bầu làm Đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII.
          Do công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, uy tín lớn trong và ngoài nước, đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.
Nguồn: nhandan.com.vn
 
5. CÁC CẤP BỘ ĐOÀN CHỦ ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI DIỄN BIẾN MỚI CỦA DỊCH BỆNH COVID- 19
 
  
Trước tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, xuất hiện ca nhiễm mới trong cộng đồng tại một số địa phương trong thời gian gần đây, Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn ban hành Công văn số 1130 -CV/TĐTN-PT, ngày 28/7/2020 “V/v ứng phó với diễn biến mới của dịch bệnh Covid-19” đến Ban Thường vụ các Huyện, Thị, Thành Đoàn và Đoàn trực thuộc lưu ý, triển khai một số nội dung sau:
1. Tuyên truyền, quán triệt tới các cấp bộ Đoàn, Hội về các quan điểm, nguyên tắc, phương châm và thực hiện nghiêm biện pháp phòng, chống dịch trong tình hình mới đã được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tại Chỉ thị 19/CT-TTg ngày 24/4/2020 và ý kiến chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân tỉnh tại Công văn số 3854/UBND-KGVX, ngày 26/7/2020 “V/v thực hiện Thông báo số 253/TB-VPCP ngày 25/7/2020 của Văn phòng Chính phủ”. Nắm bắt kịp thời, chính xác thông tin về tình hình dịch bệnh; tiếp tục tập trung tuyên truyền để đoàn viên, hội viên, thanh thiếu nhi và người dân tại địa phương thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng, chống dịch, không chủ quan, lơ là hoặc có tâm lý hoang mang; phổ biến, nâng cao ý thức của đoàn viên, thanh thiếu nhi và nhân dân trong bảo vệ, nâng cao sức khỏe và phòng, chống dịch; lên án các hành vi tung tin, bịa đặt gây ảnh hưởng tiêu cực tới công tác phòng, chống dịch.
2. Chỉ đạo các cấp bộ Đoàn, Hội triển khai lực lượng để tham gia hiệu quả vào công tác phòng, chống dịch bệnh theo chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền và Ban chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 tại địa phương.
3. Nếu phát hiện các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh phải kịp thời cung cấp thông tin với cơ quan y tế và chính quyền địa phương để phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Vận động đoàn viên, hội viên, thanh thiếu nhi và người dân chủ động khai báo y tế theo quy định.
4. Tổ chức các hoạt động của Đoàn, Hội, Đội nói chung và trong Chiến dịch Thanh niên tình nguyện Hè 2020 nói riêng phù hợp với tình hình diễn biến của dịch Covid-19 tại địa phương, bảo đảm an toàn, thiết thực, hiệu quả.
5. Tiếp tục triển khai các hoạt động hỗ trợ thanh thiếu nhi, người dân và doanh nghiệp khắc phục, vượt qua khó khăn do ảnh hưởng bởi dịch bệnh.
          6. Hướng dẫn cách cài đặt Khẩu trang điện tử Bluezone
Bluezone là ứng dụng định vị cảnh báo xác định vùng an toàn do Bộ Thông tin và Truyền thông phát hành. Ứng dụng Bluezone sẽ ghi nhận sự tiếp xúc gần, vào lúc nào và trong bao nhiêu lâu để nhanh chóng xác định các đối tượng cần cách ly khi phát hiện F0 của COVID-19. Những người tiếp xúc gần với F0 sẽ được ứng dụng này thông báo về nguy cơ lây nhiễm.

- Bước 1: Vào khu ứng dụng Google Play  (với các thiết bị sử dụng hệ điều hành Android) hoặc App Store (với các thiết bị sử dụng hệ điều hành iOS). Gõ từ khóa Bluezone trong mục tìm kiếm. Chọn ứng dụng Bluezone - Khẩu trang điện tử (Cục tin học hóa, Bộ Thông tin và Truyền thông) rồi cài đặt.
- Bước 2: Bạn nhập số điện thoại của bạn để xác thực, sau đó nhấn Tiếp tục.
- Bước 3: Mở ứng dụng và tại giao diện chính, Bluezone yêu cầu quyền truy cập Bluetooth, bạn nhấn Đồng ý/OK.
- Bước 4: Tiếp theo, bạn chọn mục Quét xung quanh.
- Bước 5: Sau vài giây, nếu bạn đã tiếp xúc gần với các trường hợp nhiễm (F0), hoặc các ca F1, F2 mà có dùng ứng dụng Bluezone thì hệ thống sẽ thông báo với bạn để bạn biết được và có biện pháp cách ly, phòng ngừa lây lan ra cộng đồng.
 
6. HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC,
PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng
Sinh mệnh của Đảng, sự thành bại của cách mạng có quan hệ trực tiếp với hoạt động tư tưởng của Đảng.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm lo đến công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bởi trong lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn, quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng. Cán bộ, đảng viên muốn hoàn thành nhiệm vụ của mình phải hiểu tư tưởng của quần chúng nhân dân, phải tuyên truyền để quần chúng thông suốt về tư tưởng để cùng thống nhất về hành động. Để hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Người một mặt yêu cầu cán bộ lãnh đạo và cán bộ các ngành phải thật thông suốt trong tư tưởng, phải có quyết tâm khắc phục khó khăn, làm tròn nhiệm vụ; mặt khác, mọi cấp ủy và mọi cán bộ, đảng viên đều phải làm công tác tư tưởng cho chính mình và đánh thông tư tưởng, động viên sáng kiến, lực lượng của toàn dân để mọi người tự giác, hăng hái tham gia cách mạng, ủng hộ cách mạng, nhất là “phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”(1).

CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG LÀ QUAN TRỌNG NHẤT

Đặc biệt đánh giá cao vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác tư tưởng trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất (2), là bộ phận trọng yếu của công tác xây dựng Đảng, là nhân tố cấu thành quan trọng hàng đầu trong sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Trong tư duy và hành động của Người, sinh mệnh của Đảng, sự thành bại của cách mạng có quan hệ trực tiếp với hoạt động tư tưởng của Đảng. Vì thế, thấm nhuần quan điểm của C.Mác: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất một khi nó xâm nhập vào quần chúng”(3), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng” (4). Theo đó, cán bộ lãnh đạo và cán bộ các ngành, tư tưởng phải thông, phải thật thông. Phải có quyết tâm khắc phục khó khăn, làm tròn nhiệm vụ” (5); đồng thời, “phải đánh thông tư tưởng và động viên sáng kiến và lực lượng của toàn Đảng, toàn dân. Mọi người quyết tâm làm cho được và tin tưởng làm nhất định được” (6).

Gắn liền với quá trình dự báo và định hướng, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi công tác tư tưởng là một mặt trận thuộc lĩnh vực tinh thần. Trong tổ chức thực hiện, bao giờ công tác tư tưởng cũng phải đi trước một bước, phải không ngừng đổi mới để phù hợp với những điều kiện cụ thể của hoàn cảnh, đối tượng, phục vụ cho sự nghiệp chung của cách mạng. Theo Người, công tác tư tưởng có đối tượng tác động là tư tưởng và tình cảm của con người, nhằm trang bị nhận thức, hình thành niềm tin và chỉ đạo hành động cách mạng cho quần chúng. Khi tiến hành làm công tác tư tưởng, chủ yếu lấy giáo dục, thuyết phục làm chính, không dùng biện pháp hành chính, nên yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên của Đảng, nhất là người làm công tác tư tưởng phải là chiến sĩ xung kích trên mặt trận ấy, phải thấu hiểu sâu sắc rằng: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại” (7). Vì vậy, vừa không thể xem nhẹ, vừa đòi hỏi chủ thể của công tác tư tưởng phải thấu hiểu mục đích, nội dung và đối tượng định tuyên truyền.

Vì công tác tư tưởng có đặc thù chuyên môn là một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, phải tiến hành mọi nơi, mọi lúc, với mọi đối tượng, nên để đạt được hiệu quả cao; để cho chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào thực tiễn cuộc sống; để đảm bảo cho con người được tuyên truyền có niềm tin, giữ vững niềm tin, hành động tích cực, sáng tạo đúng mục đích của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ làm công tác tư tưởng phải là những người “vừa hồng vừa chuyên”. Đó phải là những người trung thành, kiên định với những nguyên lý của học thuyết Mác - Lênin và đường lối, quan điểm của Đảng; có bản lĩnh chính trị vững vàng, “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất”... Người làm công tác tư tưởng phải học tập không ngừng và học tập ở mọi nơi, mọi lúc để làm giàu vốn tri thức của mình. Mỗi người đều phải “học chính trị, học văn hóa, học kỹ thuật nghiệp vụ. Ngoài cách học ở trường, ở lớp, học trên sách báo, v.v.. có một cách học rất tốt ai cũng có thể tham gia hằng ngày. Đó là cách học tập ngay trong sản xuất, học tập những người, những tổ, những đơn vị tiên tiến” (8), để có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ không lạc hậu, thoái bộ so với yêu cầu của thực tiễn. Cùng với đó là sự tâm huyết với công việc, tinh thần trách nhiệm cao và luôn gương mẫu về đạo đức cách mạng, thực hành “cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”, trung thực, thẳng thắn, lời nói phải đi đôi với việc làm; đồng thời, phải luôn rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ lý luận, gắn liền công tác lý luận với thực tiễn cách mạng, phải sâu sát thực tế và liên hệ mật thiết với quần chúng… Đó chính là yêu cầu về tài và đức - những nhân tố làm nên thành công của người làm công tác tư tưởng.

Để công tác tư tưởng đạt được hiệu quả thiết thực, luôn hướng về cơ sở, phản ánh thực tiễn sinh động của cơ sở, thì cán bộ làm công tác tư tưởng - công tác tuyên giáo phải chú trọng tuyên truyền. Khi viết hay nói, bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nói và viết thế nào cho dễ nghe, dễ hiểu?... để “mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng” (9). Hơn nữa, vì đối tượng tuyên truyền ở các địa bàn, vùng miền khác nhau; giới tính, độ tuổi, trình độ, giai tầng khác nhau, nên khi tuyên truyền, người cán bộ làm công tác tư tưởng phải điều tra, phân tách, nghiên cứu, để nắm bắt và hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của đối tượng, từ đó chọn cách nói phù hợp (khi sắc sảo, lập luận chặt chẽ, khi giản đơn, rõ ràng, thiết thực, có đầu, có đuôi, sao cho ai cũng hiểu được, nhớ được…). Hơn bao giờ hết, để hoàn thành trọng trách là vũ khí sắc bén của Đảng; trang bị nhận thức, hình thành niềm tin và chỉ đạo hành động cách mạng cho quần chúng; góp phần đấu tranh, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; góp phần xây dựng đạo đức cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, người làm công tác tư tưởng không thể lơ là, giản đơn nhiệm vụ của mình. Trong mọi thời điểm, phải khắc phục tình trạng ở “nhiều địa phương, anh em thông tin tuyên truyền lầm tưởng mình là công chức, làm việc theo cách bàn giấy mà quên nhiệm vụ của mình là tuyên truyền, cổ động, giải thích và huấn luyện cho nhân dân” (10)…

Thực tiễn cho thấy, ở mỗi giai đoạn cách mạng có những nhiệm vụ chính trị khác nhau, do đó công tác tư tưởng có những mục tiêu khác nhau, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ từng thời kỳ. Song, để hoàn thành trọng trách của mình, đảm bảo cho công tác tư tưởng có sức sống, sức thuyết phục, thì người làm công tác tư tưởng phải luôn rèn đức, luyện tài để thuyết phục quần chúng từ hiểu chưa đúng đến hiểu đúng, từ chưa tin yêu đến tin tưởng, đảm bảo cho quần chúng hành động tích cực, sáng tạo, đúng mục đích.

CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG PHẢI ĐI TRƯỚC MỘT BƯỚC

Từ những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng, các nghị quyết của Đảng đều khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của công tác tư tưởng và yêu cầu phải coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng. Thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 1/8/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”, trên cơ sở nhận thức sâu sắc: “Công tác tư tưởng của Đảng là công tác đối với con người, một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải nắm vững những quy luật riêng của tư tưởng, có thái độ, phương pháp khoa học, kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu định hướng tư tưởng với sự tự nguyện, giữa lý trí với tình cảm, giữa lời nói và việc làm, giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”, từ Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đến các cấp uỷ, ban cán sự đảng, đảng đoàn, bí thư cấp uỷ, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị đều coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng, lý luận, phát huy vai trò xung kích “đi trước một bước” để hoàn thành trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó.

Từ Trung ương đến địa phương, đội ngũ những người làm công tác tư tưởng đã nỗ lực, sáng tạo, không chỉ triển khai, tuyên truyền, quán triệt và đưa chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… vào thực tiễn cuộc sống mà còn thiết thực góp phần nghiên cứu lý luận gắn với tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng, bổ sung và phát triển đường lối của Đảng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; coi thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là quy luật, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam. Các binh chủng của công tác tư tưởng tập trung tuyên truyền, đẩy mạnh các hoạt động nhằm tăng cường sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội từ nhận thức đến hành động, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân khai thác các tiềm lực trong xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, v.v.. góp phần làm nên những thành tựu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là trong hơn 34 năm đổi mới.

Bám sát nhiệm vụ chính trị, bám sát cơ sở và thực tiễn cuộc sống; hướng vào giải quyết các vấn đề bức xúc trong cuộc sống; bám sát đối tượng cụ thể, công tác tư tưởng đã coi trọng việc tuyên truyền, giáo dục ý thức, nâng cao cảnh giác cách mạng, vạch trần các thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, góp phần phòng, chống và đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; đồng  thời, phát hiện, tôn vinh và nhân rộng những nhân tố mới, những gương tập thể và cá nhân điển hình trong phát triển kinh tế, văn hoá, an sinh xã hội; trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong xây dựng Đảng và thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Một trong những thành tích đáng ghi nhận của những người làm công tác tư tưởng là đã góp phần quan trọng trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, phát triển kinh tế là trung tâm và xây dựng văn hóa là sức mạnh nội sinh của sự phát triển, bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, mạnh và bền vững. Thực hiện các Nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng gắn với Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, công tác tư tưởng đã tập trung chỉ đạo tốt công tác triển khai, học tập, quán triệt các văn kiện Đảng, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng về quan điểm, đường lối, Cương lĩnh, Điều lệ Đảng…, đấu tranh không khoan nhượng với các biểu hiện lệch lạc, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời, góp phần bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên kiên định với lý tưởng cách mạng của Đảng, với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có bản lĩnh chính trị vững vàng, gương mẫu đi đầu trên mọi lĩnh vực, xứng đáng với vị trí tiền phong. Công tác tư tưởng đã chú trọng việc đào tạo về lý luận chính trị, về chuyên môn, nghiệp vụ và giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí, chống sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên…

Thực hiện nhiệm vụ của mình, công tác tư tưởng và những người làm công tác tư tưởng ở các cấp đã thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, giáo dục con người trong thời đại mới - con người xã hội chủ nghĩa, về đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau, về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc… và chủ động phòng và đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa. Phát huy sứ mệnh của từng binh chủng, những người làm công tác tư tưởng đã đầu tư công sức, trí tuệ, thời gian và chủ động trong cuộc đấu tranh bác bỏ các quan điểm phản động, sai trái, lệch lạc; coi trọng việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức, nâng cao cảnh giác cách mạng, vạch trần các thủ đoạn phá hoại về tư tưởng của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng; ngăn chặn sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.
Việt Nam đang tiến hành đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng. Thắng lợi của xu thế hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển… mang đến cho đất nước ta những thuận lợi. Song, những bất ổn trên thế giới do chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế… diễn ra ngày càng phức tạp cũng có những tác động tiêu cực không nhỏ. Càng trong gian nan thử thách, công tác tư tưởng càng phải chủ động, đi trước một bước; cán bộ làm công tác tư tưởng càng phải chủ động, tích cực tiếp thu cái mới, không ngừng nâng cao trình độ, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, có trình độ ngoại ngữ và tin học đáp ứng yêu cầu của công việc.
Để trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh - Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là một tập thể đoàn kết, tư tưởng thống nhất, hành động nhất trí, lãnh đạo nhân dân ta kiên định và vững bước thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta, nhân dân ta đã lựa chọn, công tác tư tưởng cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, các cấp ủy, trực tiếp là người đứng đầu phải chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng; đồng thời thực hiện tốt phương châm cả hệ thống chính trị cùng làm công tác tư tưởng. Trong công tác tư tưởng, phải chủ động nắm bắt diễn biến tình hình trong nước và quốc tế đang đặt ra đối với đất nước và địa phương để kịp thời cung cấp thông tin chính thống, định hướng nhận thức trong nội bộ và nhân dân, tạo sự thống nhất về tư tưởng, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong nhân dân. Đồng thời, chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cả về lý luận và thực tiễn cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt nói chung, những người trực tiếp làm công tác tư tưởng nói riêng nhằm nâng cao nhận thức lý luận, trau dồi bản lĩnh chính trị, năng lực thực tiễn, đạo đức, phong cách và trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Đảng trong tình hình mới.

Hai là, từ nhận thức sâu sắc rằng công tác tư tưởng là nhiệm vụ của toàn Đảng và cả hệ thống chính trị; trong đó, ngành Tuyên giáo là cơ quan tham mưu trực tiếp cho Đảng trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, các binh chủng làm công tác tư tưởng cần chủ động, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với các ngành, các cấp trong hệ thống chính trị, không ngừng đổi mới công tác tư tưởng theo hướng “tích cực, chủ động, gắn lý luận với thực tiễn”, tăng cường “nói đi đôi với làm”, “xây đi đôi với chống”, lấy giáo dục, thuyết phục và nêu gương làm trọng tâm trong tổ chức thực hiện. Xuất phát từ thực tiễn, trở về phục vụ thực tiễn, phản ánh chân thực và luôn song hành cùng mọi hoạt động của đời sống xã hội, đội ngũ những người làm công tác tư tưởng phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, nhạy bén với những chuyển biến, thay đổi nhanh chóng và phức tạp của tình hình, để kịp thời tham mưu, đề xuất cấp ủy lãnh đạo, xử lý các tình huống nảy sinh, định hướng tư tưởng, dư luận xã hội, giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc của cơ sở, của nhân dân.
Ba là, để nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính hấp dẫn của công tác tư tưởng, bên cạnh việc tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ, động viên các tầng lớp nhân dân bằng lý lẽ, tâm huyết, kinh nghiệm và bằng thực tiễn cuộc sống, những người làm công tác tư tưởng phải phát huy cao độ vai trò tiền phong, gương mẫu trong học tập nâng cao trình độ về mọi mặt, trong rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống; chú trọng nêu gương về nhân cách và tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ, trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực  hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, với các quy định về nêu gương, trong các phong trào thi đua yêu nước… Trong đó, cán bộ, đảng viên có chức vụ càng cao và người đứng đầu càng phải nêu cao tinh thần gương mẫu, thống nhất giữa nói và làm, nói trước, làm trước; chủ động đấu tranh chống lại các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và đạo đức./.
TS. Văn Thị Thanh Mai
ThS. Phạm Thị Minh Tính
Theo Tạp chí Tuyên giáo
Hà An (st)
__________
1, 5, 6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2011, t.11, tr.590, 530, 555.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II, ngày 15/7/1954.
3. C. Mác - Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1995, t.1, tr.580.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.279.
7, 9, 10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.191, 345, 480.
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.528.
 
 
7. NHIỀU CHÍNH SÁCH MỚI CÓ HIỆU LỰC TỪ NGÀY 01/8/2020

Từ tháng 8/2020, nhiều luật, chính sách mới sẽ có hiệu lực thi hành. Những nội dung đáng chú ý như: 4 trường hợp Cảnh sát giao thông được dừng xe, 11 trường hợp xe bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký, biển số xe...
Xem và tải tại trang web: (Chinhphu.vn) - Lộ trình nâng trình độ chuẩn của giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở; quy định chế độ, chính sách đối với Dân quân tự vệ; quy định mới về thu phí điện tử không dừng; thêm 05 trường hợp được miễn lệ phí môn bài;... là những chính sách mới có hiệu lực từ tháng 8/2020.
 
Lộ trình nâng trình độ chuẩn của giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở
Có hiệu lực từ ngày 18/08/2020, Nghị định số 71/2020/NĐ-CP  ban hành ngày 30/06/2020 của Chính phủ quy định lộ trình thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở.
Theo quy định, đối tượng thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo gồm:
1- Giáo viên mầm non chưa có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm trở lên, tính từ ngày 1/7/2020 còn đủ 07 năm công tác (84 tháng) đến tuổi được nghỉ hưu theo quy định.
2- Giáo viên tiểu học chưa có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên tiểu học hoặc chưa có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm trở lên, tính từ ngày 1/7/2020 còn đủ 08 năm công tác (96 tháng) đối với giáo viên có trình độ trung cấp, còn đủ 07 năm công tác (84 tháng) đối với giáo viên có trình độ cao đẳng đến tuổi được nghỉ hưu theo quy định.
3- Giáo viên trung học cơ sở chưa có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên hoặc chưa có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm trở lên, tính từ ngày 1/7/2020 còn đủ 07 năm công tác (84 tháng) đến tuổi được nghỉ hưu theo quy định.
Quy định chế độ, chính sách đối với Dân quân tự vệ                   
Nghị định số 72/2020/NĐ-CP ban hành ngày 30/06/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Dân quân tự vệ về tổ chức xây dựng lực lượng và chế độ, chính sách đối với Dân quân tự vệ có hiệu lực từ ngày 15/08/2020.
Nghị định này quy định chi tiết một số điều của Luật Dân quân tự vệ về: Phân cấp quản lý đơn vị Dân quân tự vệ; số lượng Phó chỉ huy trưởng, tiêu chuẩn, định mức trang thiết bị làm việc của Ban chỉ huy quân sự cấp xã, Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức; trang phục, sao mũ, phù hiệu của Dân quân tự vệ; mức hưởng chế độ phụ cấp các chức vụ chỉ huy Dân quân tự vệ; định mức bảo đảm chế độ, chính sách cho từng thành phần Dân quân tự vệ; điều kiện, mức hưởng, trình tự, thủ tục và cơ quan có trách nhiệm bảo đảm kinh phí, chế độ, chính sách cho Dân quân tự vệ không tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bị ốm đau, bị tai nạn, chết.
Quy định về tuyển chọn, đào tạo sĩ quan dự bị
Nghị định 78/2020/NĐ-CP ban hành ngày 06/07/2020 của Chính phủ về sĩ quan dự bị Quân đội nhân dân Việt Nam có hiệu lực từ ngày 19/08/2020.
Nghị định trên quy định đối tượng được tuyển chọn đào tạo sĩ quan dự bị gồm: Quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan chuẩn bị xuất ngũ; hạ sĩ quan dự bị, cán bộ, công chức, viên chức và công dân tốt nghiệp đại học trở lên; sinh viên khi tốt nghiệp đại học.
Chế độ phụ cấp đối với quân nhân dự bị
Có hiệu lực từ ngày 21/08/2020, Nghị định 79/2020/NĐ-CP ban hành ngày 08/07/2020 của Chính phủ quy định chế độ, chính sách trong xây dựng, huy động lực lượng dự bị động viên.
Nghị định này quy định phụ cấp đối với quân nhân dự bị đã xếp vào đơn vị dự bị động viên; phụ cấp trách nhiệm quản lý đơn vị dự bị động viên; phụ cấp theo ngày làm việc; chế độ khám bệnh, chữa bệnh; chế độ trợ cấp tai nạn, trợ cấp chết do tai nạn hoặc chết do ốm đau, tai nạn rủi ro; trợ cấp đối với gia đình quân nhân dự bị; chế độ, chính sách đối với học viên đào tạo sĩ quan dự bị; chế độ viếng sĩ quan dự bị từ trần.
Quy định mới về thu phí điện tử không dừng
Quyết định 19/2020/QĐ-TTg ban hành ngày 17/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thu phí dịch vụ sử dụng đường bộ theo hình thức điện tử không dừng có hiệu lực từ 1/8/2020.
Về tiến độ thực hiện thu phí điện tử không dừng, Quyết định nêu rõ: Đối với các trạm thu phí dịch vụ sử dụng đường bộ đã lắp đặt hệ thống thu phí điện tử không dừng phải vận hành ngay việc thu phí điện tử không dừng.
Đối với các trạm thu phí dịch vụ sử dụng đường bộ đang hoạt động, chưa lắp đặt hệ thống thu phí điện tử không dừng chậm nhất đến ngày 31/12/2020 phải chuyển sang thu phí điện tử không dừng.
Còn với các trạm thu phí do Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam quản lý, tiến độ hoàn thành sẽ do Bộ Giao thông vận tải và Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp xem xét, quyết định phù hợp với điều kiện nguồn vốn của dự án.
Cũng theo Quyết định, đối với các trạm thu phí dịch vụ sử dụng đường bộ thuộc các dự án đầu tư xây dựng mới, chỉ triển khai thu phí dịch vụ sử dụng đường bộ khi thực hiện thu phí điện tử không dừng theo quy định của Quyết định này.
Căn cứ điều kiện cụ thể đối với từng trạm thu phí, Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định: Việc duy trì mỗi trạm thu phí có 1 làn thu phí hỗn hợp (làn thu phí áp dụng cả hình thức điện tử không dừng và hình thức một dừng) trên mỗi chiều lưu thông.
Thời điểm chuyển làn hỗn hợp nêu trên sang thu phí điện tử không dừng và thực hiện thu phí toàn bộ theo hình thức điện tử không dừng.
Tạm dừng và thời gian tạm dừng việc thu phí dịch vụ sử dụng đường bộ với các trạm thu phí chưa thực hiện việc thu phí điện tử không dừng theo quy định ở trên và khoản 3 Điều 7 của Quyết định này do lỗi của nhà đầu tư.
Việc thực hiện thu phí điện tử không dừng đối với các trạm thu phí có thời gian hoàn vốn còn lại dưới 3 năm đảm bảo hiệu quả, công khai, minh bạch.
Thêm 05 trường hợp được miễn lệ phí môn bài
Có hiệu lực từ ngày từ ngày 23/8/2020, Thông tư số 65/2020/TT-BTC của Bộ Tài chính sửa đổi Thông tư số 302/2016/TT-BTC ngày 4/10/2016 hướng dẫn về lệ phí môn bài đã bổ sung thêm 5 trường hợp được miễn lệ phí môn bài theo khoản 1 Điều 1 Nghị định số 22/2020/NĐ-CP ngày 24/02/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 139/2016/NĐ-CP ngày 04/10/2016 của Chính phủ quy định về lệ phí môn bài. 
Quy trình cấp, thu hồi đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
Thông tư số 58/2020/TT-BCA quy định quy trình cấp, thu hồi đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ có hiệu lực từ 1/8/2020.
Trong đó, đối với đăng ký xe trực tuyến (qua mạng internet), Thông tư quy định chủ xe kê khai thông tin của xe, chủ xe vào giấy khai đăng ký xe (mẫu số 01) trên trang thông tin điện tử của Cục Cảnh sát giao thông hoặc Cổng dịch vụ công quốc gia để đăng ký xe trực tuyến và nhận mã số thứ tự, lịch hẹn giải quyết hồ sơ qua email hoặc qua tin nhắn điện thoại. Cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ đăng ký xe kiểm tra nội dung kê khai, tiến hành đăng ký cho chủ xe. Hồ sơ xe theo quy định tại Điều 8, Điều 9 và trình tự cấp đăng ký, biển số theo quy định tại Điều 10 Thông tư này.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát giao thông trong tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ
Thông tư số 65/2020/TT-BCA quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05/8/2020.
Đáng chú ý, Thông tư quy định cụ thể quyền hạn của Cảnh sát giao thông trong tuần tra, kiểm soát, như sau:
Thứ nhất, được dừng các phương tiện tham gia giao thông đường bộ theo quy định của Luật Giao thông đường bộ, Thông tư này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Kiểm soát người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ, giấy tờ của người điều khiển phương tiện giao thông, giấy tờ của phương tiện giao thông và giấy tờ tùy thân của người trên phương tiện giao thông đang kiểm soát theo quy định của pháp luật; kiểm soát việc thực hiện các quy định về hoạt động vận tải đường bộ theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, được áp dụng các biện pháp ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm về giao thông đường bộ, trật tự xã hội và các hành vi vi phạm khác theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, được yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp, hỗ trợ giải quyết tai nạn, ùn tắc, cản trở giao thông hoặc trường hợp khác gây mất trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Trong trường hợp cấp bách để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội hoặc để ngăn chặn hậu quả thiệt hại cho xã hội đang xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra, Cảnh sát giao thông đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát được huy động phương tiện giao thông, phương tiện thông tin liên lạc, phương tiện khác của cơ quan, tổ chức, cá nhân và người đang điều khiển, sử dụng phương tiện đó. Việc huy động được thực hiện dưới hình thức yêu cầu trực tiếp hoặc bằng văn bản.
 Thứ tư, được trang bị, lắp đặt, sử dụng phương tiện giao thông, phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật và của Bộ Công an.
          Thứ năm, được tạm thời đình chỉ đi lại ở một số đoạn đường nhất định, phân lại luồng, phân lại tuyến và nơi tạm dừng, đỗ phương tiện giao thông khi có tình huống ách tắc giao thông, tai nạn giao thông hoặc khi có yêu cầu cần thiết khác về bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Thứ sáu, thực hiện các quyền hạn khác của lực lượng Công an nhân dân theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, Điều 16 của Thông tư quy định Cảnh sát giao thông thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát theo kế hoạch được dừng phương tiện giao thông để kiểm soát trong các trường hợp sau:
- Trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phát hiện, ghi thu được các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ và các hành vi vi phạm pháp luật khác;
- Thực hiện mệnh lệnh, kế hoạch tổng kiểm soát phương tiện giao thông đường bộ, kế hoạch tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm theo chuyên đề đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Có văn bản đề nghị của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng liên quan về dừng phương tiện giao thông để kiểm soát phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự, đấu tranh phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Văn bản đề nghị phải ghi cụ thể thời gian, tuyến đường, phương tiện giao thông dừng để kiểm soát, xử lý, lực lượng tham gia phối hợp;
- Tin báo, phản ánh, kiến nghị, tố cáo của tổ chức, cá nhân về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
 
 
Biên soạn: Ban Tuyên giáo Tỉnh Đoàn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây